Khổ sách chuẩn là những khổ nào?
Các khổ sách chuẩn phổ biến ở Việt Nam gồm 13x19 cm và 14.5x20.5 cm cho sách văn học, sách kỹ năng; 16x24 cm cho sách chuyên khảo và giáo trình; A5 (14.8x21 cm), B5 (17.6x25 cm) và A4 (21x29.7 cm) cho tài liệu và ấn phẩm doanh nghiệp; khổ vuông như 20x20 hoặc 25x25 cm cho sách ảnh và kỷ yếu. Đây là các khổ thường gặp chứ không phải quy định bắt buộc, và nên chọn khổ tận dụng tốt khổ giấy in để hạn chế hao hụt giấy.
Khổ sách chuẩn là gì? Vì sao việc chọn khổ ảnh hưởng tới giá in
Khổ sách là kích thước thành phẩm của một cuốn sách sau khi đã xén, thường ghi theo thứ tự chiều rộng nhân chiều cao và tính bằng centimet; chẳng hạn 14.5x20.5 cm nghĩa là mỗi trang rộng 14,5 cm và cao 20,5 cm. Khi nhắc đến khổ sách chuẩn, người làm nghề in và xuất bản thường muốn nói đến những khổ được sử dụng phổ biến, đã quen thuộc với độc giả, với kệ sách và với cách bình trang trên máy in, chứ không phải một quy định pháp lý buộc phải tuân theo. Hiểu như vậy giúp đơn vị đặt in linh hoạt hơn: có thể chọn khổ sách chuẩn để tối ưu chi phí, hoặc chọn khổ riêng khi nội dung và nhận diện thương hiệu đòi hỏi, miễn là nắm rõ hệ quả của lựa chọn đó.
Khổ sách tác động trực tiếp đến chi phí vì giấy là một trong những khoản lớn của đơn in sách, và lượng giấy phụ thuộc vào cả diện tích mỗi trang lẫn cách các trang được sắp lên tờ in. Một khổ phù hợp với khổ giấy in cho phép ghép nhiều trang trên một tờ với phần thừa nhỏ, còn một khổ lệch vài milimet có thể làm giảm số trang đặt được trên tờ và đẩy lượng giấy hao hụt lên đáng kể. Vì vậy khổ sách chuẩn thường mang hai lợi ích song song là dễ tìm giấy phù hợp và chi phí giấy hợp lý hơn.
Ngoài chi phí, khổ sách còn quyết định trải nghiệm đọc, khả năng trình bày bảng biểu hoặc hình ảnh, trọng lượng cuốn sách và cách cuốn sách được bảo quản, vận chuyển. Một tiểu thuyết ở khổ quá lớn sẽ cồng kềnh khi cầm đọc, trong khi một giáo trình nhiều bảng biểu ở khổ quá nhỏ buộc phải thu nhỏ chữ và hình. Do đó việc chọn khổ nên đi từ nội dung và mục đích sử dụng, sau đó mới đối chiếu với khổ giấy và kiểu đóng gáy.
Một tình huống thường gặp tại xưởng là đơn vị đã dàn trang xong theo một khổ tự đặt, rộng hơn khổ phổ biến vài milimet, rồi mới chuyển file sang in. Khi đó số trang đặt được trên một tờ in giảm, lượng giấy tiêu hao tăng và chi phí cho cùng một cuốn sách cao hơn so với khi dùng khổ sách chuẩn gần đó, khớp với tờ in. Chênh lệch này thường có thể tránh được nếu khách hàng trao đổi với xưởng về khổ ngay từ khi bắt đầu dàn trang.
Gửi nội dung và số trang – xưởng tư vấn khổ sách phù hợp, báo giá miễn phí
Cho biết loại sách, số trang dự kiến và số lượng để In An Anh đề xuất khổ thành phẩm phù hợp khổ giấy. Xưởng thiết kế và dàn trang từ nội dung khách hàng cung cấp, đồng thời nhận làm cuốn trắng để kiểm tra khổ trước khi in.
💬 Gửi File – Nhận Báo Giá NgayKhổ thành phẩm, khổ giấy in và hao hụt: các khái niệm cần nắm trước khi chọn khổ
Trao đổi về khổ sách với xưởng thường gắn với một số thuật ngữ chuyên môn mà người mới đặt in ít gặp. Bảng dưới đây giải thích ngắn gọn từng khái niệm để đơn vị đặt in mô tả yêu cầu chính xác hơn và hiểu vì sao báo giá thay đổi khi khổ thay đổi.
| Thuật ngữ | Giải thích |
|---|---|
| Khổ thành phẩm | Kích thước một trang sách sau khi xén ba cạnh (trên, dưới, ngoài); đây là con số khách hàng nhìn thấy và ghi trong đơn đặt in. |
| Khổ giấy nguyên (tờ nguyên) | Kích thước tờ giấy xuất xưởng của nhà sản xuất giấy, thường lớn hơn nhiều so với khổ in; từ tờ nguyên, xưởng cắt thành các tờ có khổ phù hợp với máy. |
| Khổ giấy in (tờ in) | Tờ giấy đã cắt theo khổ của máy in, trên đó nhiều trang sách được sắp xếp cùng lúc rồi in cả hai mặt. |
| Bình trang | Sắp xếp các trang lên tờ in theo đúng thứ tự để sau khi gấp và xén, các trang nằm đúng vị trí và liền mạch. |
| Tay sách (thếp) | Cụm trang tạo ra khi gấp một tờ in; số trang mỗi tay sách thường là 8, 16 hoặc 32 tùy khổ và cách gấp. |
| Vùng xén và tràn lề (bleed) | Phần hình hoặc màu nền được kéo dài ra ngoài mép thành phẩm khoảng vài milimet để khi xén không để lộ viền trắng. |
| Vùng an toàn | Khoảng cách tối thiểu từ mép thành phẩm vào bên trong, nơi chữ và chi tiết quan trọng cần nằm để không bị xén mất. |
| Lề gáy (lề trong) | Khoảng trống giữa nội dung và gáy sách, thường rộng hơn lề ngoài vì phần này bị cuốn vào gáy khi đóng. |
| Hao hụt (bù hao) | Phần giấy tiêu hao ngoài số lượng thành phẩm, gồm giấy chạy lên màu, giấy lỗi trong in và gia công, và phần thừa do khổ không khớp. |
| Khổ đứng, khổ ngang | Khổ đứng có chiều cao lớn hơn chiều rộng, khổ ngang có chiều rộng lớn hơn chiều cao; khổ vuông có hai chiều bằng nhau. |
Cách ghi kích thước: rộng nhân cao
Trong ngành in, khổ thành phẩm thường được viết theo quy ước chiều rộng đứng trước, chiều cao đứng sau, ví dụ 16x24 là rộng 16 cm, cao 24 cm. Dấu thập phân có thể là dấu chấm hoặc dấu phẩy tùy thói quen, nên 14.5x20.5 và 14,5 x 20,5 cm là cùng một khổ. Khi gửi yêu cầu, khách hàng nên ghi rõ đơn vị (cm hoặc mm) và hướng sách đứng hay ngang, vì cùng hai con số nhưng đổi chỗ sẽ cho ra một khổ khác hẳn khi đặt gáy ở cạnh dài hay cạnh ngắn.
Hướng thớ giấy và ảnh hưởng tới khổ
Giấy được sản xuất theo một chiều nhất định nên các sợi xơ xếp chủ yếu theo một hướng, gọi là thớ giấy. Với sách, thớ giấy nên chạy song song với gáy để các trang lật nhẹ, ít cong vênh và không bị nhăn khi lật nhiều lần. Một số khổ sách đòi hỏi tờ in có thớ theo chiều ngược lại so với tờ nguyên thông dụng, khi đó xưởng cần chọn khổ tờ nguyên phù hợp hoặc chấp nhận hao hụt lớn hơn; đây là một lý do khác khiến khổ sách phổ biến thường thuận lợi hơn về nguồn giấy.
Hao hụt giấy gồm những phần nào
Hao hụt trong in sách không chỉ là phần giấy bị xén đi. Một đơn hàng thường phát sinh lượng giấy dùng cho việc chạy máy để lên màu và kiểm tra, phần mép giấy mà máy dùng để kẹp và dẫn tờ, dải kiểm tra màu ở rìa tờ in, giấy lỗi trong quá trình gấp và đóng, cùng phần thừa giữa các trang khi khổ sách không chia đều khổ tờ in. Trong các thành phần này, phần thừa do khổ không khớp là phần khách hàng có thể chủ động giảm bằng cách chọn khổ phù hợp, các phần còn lại chủ yếu là đặc thù kỹ thuật của công đoạn in.
Bảng tra khổ sách chuẩn phổ biến tại Việt Nam
Bảng dưới đây tập hợp các khổ sách chuẩn thường gặp trên thị trường, kèm nhóm ấn phẩm thường sử dụng. Đây là thông tin mang tính phổ biến và tham khảo; mỗi nhà xuất bản, đơn vị đào tạo hoặc doanh nghiệp có thể chọn khổ khác theo yêu cầu riêng, và xưởng luôn xác nhận lại khổ cụ thể khi nhận file.
| Khổ | Kích thước (cm) | Thường dùng cho | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 13x19 | 13 x 19 | Tiểu thuyết, truyện, thơ, sách bỏ túi | Gọn, nhẹ, dễ cầm một tay; ít không gian cho bảng biểu và hình lớn |
| 13x20.5 | 13 x 20,5 | Sách văn học, sách dịch, tản văn | Thon và cao hơn 13x19 một chút, hợp với sách nhiều chữ |
| 14.5x20.5 | 14,5 x 20,5 | Sách kỹ năng, kinh doanh, văn học, sách dịch | Khổ thường gặp, cân đối giữa độ gọn và không gian trình bày |
| 16x24 | 16 x 24 | Sách chuyên khảo, giáo trình, sách nghiên cứu, sách có bảng biểu | Rộng rãi cho bảng và hình; cuốn sách nặng hơn khi số trang lớn |
| 17x24 | 17 x 24 | Giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu học tập (tham khảo) | Khổ sách giáo khoa thay đổi theo bộ sách và cấp học, chỉ nên coi là tham khảo |
| 19x27 | 19 x 27 | Giáo trình nhiều hình, sách mỹ thuật, tạp chí, sách nấu ăn | Khổ lớn cho nhiều hình ảnh; lượng giấy tăng đáng kể |
| A5 | 14,8 x 21 | Tài liệu, sách hướng dẫn, sổ tay, ấn phẩm doanh nghiệp | Khổ hệ A, dễ phối hợp với các ấn phẩm văn phòng khác |
| B5 | 17,6 x 25 | Giáo trình, tạp chí, sách bài tập, báo cáo | Theo chuẩn ISO; khổ B5 theo chuẩn JIS của Nhật Bản là 18,2 x 25,7 |
| A4 | 21 x 29,7 | Tài liệu kỹ thuật, báo cáo, hồ sơ, sách ảnh | Khổ lớn, cuốn dày sẽ nặng và cần kiểu gáy phù hợp |
| A6 | 10,5 x 14,8 | Sách bỏ túi, sổ nhỏ, sách mini, quà tặng | Rất gọn; chữ cần cỡ đủ lớn để dễ đọc |
| Vuông 20x20 | 20 x 20 | Sách ảnh, sách thiếu nhi, kỷ yếu nhỏ | Hình ảnh cân đối; không phải khổ phổ biến của hệ giấy A, B |
| Vuông 21x21 | 21 x 21 | Sách ảnh, kỷ yếu, album | Gần khổ A5 về chiều rộng, thường chọn cho ảnh dọc và ngang cân bằng |
| Vuông 25x25 | 25 x 25 | Sách ảnh, sách nghệ thuật, kỷ yếu cao cấp | Khổ lớn, ảnh hiển thị rõ nhưng chi phí giấy và đóng gáy cao hơn |
So sánh diện tích trang: khổ lớn hơn tốn giấy hơn bao nhiêu
Diện tích một trang là cách trực quan để so sánh lượng giấy giữa các khổ sách chuẩn: với cùng số trang, cuốn nào có diện tích trang lớn hơn sẽ dùng nhiều giấy hơn theo đúng tỷ lệ đó. Bảng dưới lấy khổ A5 làm mốc so sánh và chỉ tính diện tích thành phẩm, chưa tính phần hao hụt. Khách hàng có thể đối chiếu thêm kích thước các khổ giấy phổ biến tại bảng kích thước khổ giấy.
| Khổ | Diện tích một trang (cm²) | So với A5 |
|---|---|---|
| A6 (10,5 x 14,8) | 155,4 | Khoảng 0,50 lần |
| 13x19 | 247,0 | Khoảng 0,79 lần |
| 13x20.5 | 266,5 | Khoảng 0,86 lần |
| 14.5x20.5 | 297,3 | Khoảng 0,96 lần |
| A5 (14,8 x 21) | 310,8 | Mốc so sánh (1,00 lần) |
| 16x24 | 384,0 | Khoảng 1,24 lần |
| Vuông 20x20 | 400,0 | Khoảng 1,29 lần |
| 17x24 | 408,0 | Khoảng 1,31 lần |
| B5 (17,6 x 25) | 440,0 | Khoảng 1,42 lần |
| Vuông 21x21 | 441,0 | Khoảng 1,42 lần |
| 19x27 | 513,0 | Khoảng 1,65 lần |
| A4 (21 x 29,7) | 623,7 | Khoảng 2,01 lần |
| Vuông 25x25 | 625,0 | Khoảng 2,01 lần |
Có thể thấy khổ A4 và khổ vuông 25x25 đều có diện tích gấp khoảng hai lần khổ A5, nghĩa là cùng số trang thì cuốn sách dùng lượng giấy ruột xấp xỉ gấp đôi. Ngược lại, khổ 13x19 nhỏ hơn A5 khoảng một phần năm về diện tích, nhưng cuốn sách sẽ cần nhiều trang hơn để chứa cùng một lượng nội dung, nên mức tiết kiệm giấy thực tế không lớn như con số diện tích gợi ý.
Chọn khổ sách chuẩn theo từng loại sách
Không có khổ nào phù hợp với mọi thể loại, vì mỗi loại sách có cách đọc, cách trình bày và đối tượng độc giả khác nhau. Các phần dưới đây nêu khổ thường được chọn cho từng loại sách và lý do, từ đó khách hàng có thể xác định khổ gần đúng trước khi trao đổi chi tiết với xưởng.
Tiểu thuyết và sách văn học
Sách văn học chủ yếu là chữ, độc giả cầm đọc trong thời gian dài và thường mang theo bên người, nên các khổ nhỏ gọn như 13x19, 13x20.5 hoặc 14.5x20.5 được lựa chọn nhiều. Những khổ này cho phép bố cục một cột chữ dễ đọc, cuốn sách nhẹ và vừa tay, đồng thời tiết kiệm giấy so với khổ lớn. Nếu tác phẩm dài, khổ nhỏ sẽ làm số trang tăng lên và gáy dày hơn, khi đó nên cân nhắc khổ 14.5x20.5 để giảm số trang mà vẫn giữ được cảm giác gọn tay.
Sách kỹ năng và sách doanh nhân
Sách kỹ năng, quản trị, kinh doanh thường có chữ kết hợp bảng, sơ đồ hoặc khung tóm tắt, nên khổ 14.5x20.5 hoặc 16x24 là hai lựa chọn thường gặp. Khổ 14.5x20.5 phù hợp khi nội dung chủ yếu là văn bản và có ít hình minh họa; khổ 16x24 phù hợp khi sách có nhiều bảng, biểu đồ hoặc bài tập cần đủ chỗ để người đọc ghi chú. Đơn vị đặt in có thể tham khảo thêm dịch vụ in sách doanh nghiệp khi cần in sách thương hiệu hoặc sách tặng đối tác.
Giáo trình và tài liệu đào tạo
Giáo trình thường dùng khổ lớn như 16x24, 17x24, 19x27 hoặc B5 vì có nhiều bảng biểu, công thức, hình minh họa và khoảng trống để học viên ghi chú. Khổ sách giáo khoa và giáo trình chính thức có thể do cơ sở đào tạo hoặc cơ quan quản lý quy định theo từng bộ sách, nên khách hàng cần đối chiếu yêu cầu của đơn vị trước khi chốt khổ. Quy cách thực hiện và các kiểu đóng gáy cho nhóm ấn phẩm này có tại trang dịch vụ in giáo trình, tài liệu.
Sách ảnh, kỷ yếu và sách nghệ thuật
Sách ảnh và kỷ yếu ưu tiên không gian cho hình, vì vậy thường chọn khổ vuông như 20x20, 21x21, 25x25 hoặc khổ lớn như A4, 19x27. Khổ vuông cho phép đặt cân bằng cả ảnh dọc lẫn ảnh ngang mà không phải cắt nhiều, còn khổ lớn giúp ảnh trải đôi hiển thị đầy đủ chi tiết. Khách hàng có thể xem thêm dịch vụ in kỷ yếu doanh nghiệp và in photobook, sách ảnh để so sánh quy cách và kiểu gáy phù hợp.
Sách thiếu nhi
Sách thiếu nhi có nhiều hình màu và chữ cỡ lớn nên thường chọn khổ vuông 20x20, 21x21 hoặc khổ A5, A4 theo độ tuổi và loại sách. Với trẻ nhỏ, khổ cần vừa tay để trẻ tự cầm lật trang, đồng thời góc sách thường được bo tròn và giấy có định lượng cao để chịu được thao tác lật mạnh. Sách có nhiều hình màu cần chú ý tới kiểu in và giấy, chi tiết có tại trang in sách màu.
Sách hướng dẫn sử dụng và booklet
Sách hướng dẫn sử dụng, tài liệu kèm sản phẩm và booklet thường chọn khổ A5, A6 hoặc khổ nhỏ hơn để gọn khi đi kèm hộp sản phẩm, đồng thời giảm lượng giấy cho số lượng lớn. Khổ cần tương ứng với kích thước hộp hoặc túi đựng, vì vậy nên chốt khổ này cùng lúc với thiết kế bao bì. Khách hàng có thể tham khảo thêm dịch vụ in sách hướng dẫn sử dụng và in booklet.
Sách chuyên khảo, nghiên cứu và báo cáo
Sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, báo cáo nghiên cứu có chữ dày, nhiều chú thích, bảng số liệu và tài liệu tham khảo, nên thường chọn khổ 16x24, B5 hoặc A4 để có chiều rộng đủ cho bảng và cột chú thích. Báo cáo thường niên của doanh nghiệp lại thiên về trình bày đồ họa nên phổ biến ở khổ A4 hoặc khổ vuông lớn; thông tin chi tiết có tại trang dịch vụ in báo cáo thường niên.
Sách nấu ăn, sách mỹ thuật và sách hướng dẫn kỹ thuật
Các thể loại này có hình ảnh lớn đi kèm quy trình từng bước, nên cần khổ đủ rộng để hình minh họa hiển thị rõ và thông tin được chia cột hợp lý. Khổ 19x27, A4 hoặc khổ vuông lớn thường được chọn. Cần lưu ý rằng khổ lớn kết hợp giấy dày làm cuốn sách nặng, vì vậy nên tính trước kiểu gáy và loại giấy để cuốn sách vẫn mở được thuận tiện khi đặt trên bàn.
Gợi ý khổ sách chuẩn theo đơn vị đặt in và mục đích sử dụng
Cùng một nội dung nhưng mục đích sử dụng khác nhau có thể dẫn tới khổ khác nhau: sách tặng đối tác cần hình thức chỉn chu, sách bán lẻ cần khổ quen thuộc với kệ nhà sách, tài liệu nội bộ lại ưu tiên khả năng photo và lưu hồ sơ. Bảng dưới đây ghép từng nhóm đơn vị đặt in với khổ thường được cân nhắc; khách hàng nên dùng như điểm khởi đầu rồi trao đổi thêm với xưởng.
| Đơn vị đặt in | Ấn phẩm | Khổ thường cân nhắc | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| Doanh nghiệp | Sách thương hiệu, sách tặng đối tác | 14.5x20.5, 16x24 hoặc A5 | Chọn khổ gần sách xuất bản để tạo hình thức chuyên nghiệp khi trao tay |
| Doanh nghiệp | Hồ sơ năng lực, báo cáo thường niên | A4 hoặc A5, đôi khi khổ vuông lớn | A4 chứa được nhiều thông tin và hình; A5 gọn khi gửi cho nhiều đối tác |
| Doanh nghiệp, tổ chức | Kỷ yếu, sách kỷ niệm | A4, vuông 21x21 hoặc 25x25 | Ưu tiên ảnh trải đôi nên cần kiểu gáy mở phẳng tốt |
| Trường học, trung tâm đào tạo | Giáo trình, tài liệu học tập | 16x24, 17x24, B5 hoặc A4 | Đối chiếu quy định của đơn vị quản lý hoặc bộ giáo trình hiện hành |
| Tác giả tự xuất bản | Tiểu thuyết, sách kỹ năng, tập truyện | 13x19, 13x20.5 hoặc 14.5x20.5 | Khổ gần với sách đang bày bán giúp cuốn sách có hình thức quen thuộc |
| Đơn vị làm sách theo bộ | Tủ sách, bộ sách nhiều tập | Một khổ thống nhất cho toàn bộ | Giữ cùng khổ giúp cả bộ đồng đều khi xếp cạnh nhau |
| Cửa hàng, thương hiệu | Catalogue, lookbook | A4, A5 hoặc khổ vuông | Tham khảo bảng khổ riêng cho catalogue ở bài kích thước catalogue |
| Cá nhân, gia đình | Photobook, sách ảnh kỷ niệm | Vuông 20x20, 25x25 hoặc A4 ngang | Số trang ít nên có thể chọn khổ lớn để ảnh hiển thị rõ |
Với catalogue, khổ thường chọn theo cách sử dụng và cách gửi hoặc trưng bày, nên khách hàng có thể xem thêm bảng khổ riêng tại bài kích thước catalogue thông dụng. Riêng hồ sơ năng lực, nội dung bài hồ sơ năng lực gồm những gì giúp xác định số trang dự kiến trước khi chọn khổ, vì số trang cũng ảnh hưởng đến độ dày và kiểu gáy.
Giữ khổ thống nhất trong một bộ sách
Với bộ sách nhiều tập hoặc loạt ấn phẩm ra định kỳ, khổ nên được chốt cho cả bộ ngay từ tập đầu. Lý do là khi xếp cạnh nhau, các tập khác khổ sẽ lộ rõ sự chênh lệch, trong khi việc đổi khổ giữa chừng lại buộc phải dàn trang lại toàn bộ nội dung. Khổ thống nhất cũng thuận lợi cho việc đặt giấy, vì xưởng có thể tính toán lượng giấy theo cùng một cách bình trang cho các lần in tiếp theo.
Khổ giấy hệ A và hệ B: hiểu nhanh để chọn khổ sách chuẩn
Khổ giấy hệ A và hệ B được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 216, trong đó mọi khổ có cùng tỷ lệ giữa cạnh dài và cạnh ngắn xấp xỉ 1,414. Nhờ tỷ lệ này, khi gấp đôi một tờ giấy theo cạnh dài, ta được tờ nhỏ hơn một bậc nhưng vẫn giữ nguyên tỷ lệ; khổ A0 có diện tích khoảng 1 mét vuông và A4 chính là một phần mười sáu của A0. Hệ B nằm xen giữa các khổ của hệ A và thường dùng cho giáo trình, tạp chí, sách bài tập. Bảng kích thước đầy đủ hơn có tại bài kích thước khổ giấy.
| Khổ | Kích thước (mm) | Thường gặp ở ấn phẩm sách |
|---|---|---|
| A3 | 297 x 420 | Tờ gấp đôi tạo thành A4; dùng cho bản vẽ, poster, tờ rơi lớn |
| A4 | 210 x 297 | Tài liệu, báo cáo, hồ sơ, sách ảnh, kỷ yếu |
| A5 | 148 x 210 | Sách hướng dẫn, tài liệu, sổ tay, sách doanh nghiệp |
| A6 | 105 x 148 | Sách bỏ túi, sổ nhỏ, sách mini, phiếu hướng dẫn |
| B4 | 250 x 353 | Tờ gấp đôi tạo thành B5; ít dùng làm sách trực tiếp |
| B5 | 176 x 250 | Giáo trình, tạp chí, sách bài tập, báo cáo |
| B6 | 125 x 176 | Sách bỏ túi, truyện, sách nhỏ |
B5 theo chuẩn ISO và chuẩn JIS khác nhau thế nào
Khổ B5 tồn tại ở hai biến thể: B5 theo ISO có kích thước 176 x 250 mm, còn B5 theo chuẩn JIS của Nhật Bản có kích thước 182 x 257 mm. Hai khổ chỉ khác nhau vài milimet nhưng đủ để lệch khi bình trang trên cùng một tờ in, nên khi đặt in sách khổ B5 khách hàng cần ghi rõ kích thước bằng con số cụ thể thay vì chỉ ghi tên khổ. Trong thực tế, nhiều ấn phẩm ở Việt Nam dùng khổ gần B5 như 16x24 hoặc 17x24, vì vậy cách an toàn nhất là xác nhận lại bằng chiều rộng và chiều cao cụ thể.
Khổ giấy nguyên và khổ giấy in offset
Giấy dùng để in sách thường được cung cấp dưới dạng tờ nguyên có kích thước lớn hơn nhiều so với khổ sách, chẳng hạn các khổ phổ biến như 65x86 cm hoặc 79x109 cm, tùy loại giấy và nhà sản xuất. Xưởng cắt tờ nguyên thành khổ phù hợp với máy rồi bình các trang sách lên tờ in; vì vậy khổ sách chuẩn là khổ chia vừa khổ tờ in với phần thừa nhỏ. Các khái niệm về định lượng và loại giấy thường dùng cho sách được trình bày ở bài định lượng giấy gsm và bài giấy in sách.
Khổ sách chuẩn và tối ưu giấy in: cách bình trang quyết định mức hao hụt
Sau khi khổ thành phẩm được chốt, xưởng bình các trang lên tờ in sao cho số trang đặt được là tối đa và thứ tự trang đúng sau khi gấp. Một mặt tờ in thường chứa 8 hoặc 16 trang, nên khi gấp xong ta được tay sách 16 hoặc 32 trang. Khổ thành phẩm càng chia vừa khổ tờ in thì phần giấy thừa càng nhỏ và số tờ cần dùng cho cả cuốn càng ít. Ngược lại, chỉ cần khổ lớn hơn khổ phổ biến một chút ở một chiều, một hàng hoặc một cột trang có thể không còn đặt vừa, kéo theo số trang trên tờ giảm mạnh.
Ví dụ minh họa: lệch 5 mm có thể làm số trang trên tờ giảm một nửa
Giả sử một tờ in có vùng in hữu dụng khoảng 62 x 84 cm sau khi trừ mép kẹp giấy và dải kiểm tra màu, đồng thời mỗi trang cần chừa khoảng 3 mm tràn lề. Với khổ 14.5x20.5 cm, ta đặt được 4 trang theo chiều ngang (khoảng 58 cm) và 4 trang theo chiều dọc (khoảng 82 cm), tức 16 trang trên một mặt. Nếu khổ tăng nhẹ lên 15x21 cm, chiều ngang vẫn đặt được 4 trang (60 cm) nhưng chiều dọc chỉ còn 3 trang vì 4 trang đã vượt 84 cm, và số trang trên mặt tờ giảm còn 12; vì cách gấp thường cần 8 hoặc 16 trang trên một mặt, thực tế chỉ còn khả năng bình 8 trang.
| Khổ thành phẩm | Số trang theo chiều ngang x dọc | Số trang bình được trên một mặt | Tỷ lệ diện tích tờ in dành cho trang sách |
|---|---|---|---|
| 14.5x20.5 cm | 4 x 4 | 16 trang | Khoảng 91% |
| 15x21 cm | 4 x 3 (12 trang, thực tế bình 8) | 8 trang | Khoảng 48% |
| 13x19 cm | 4 x 4 | 16 trang | Khoảng 76% (trang nhỏ hơn nên phần thừa nhiều hơn trên cùng tờ in) |
Con số trên chỉ minh họa cho nguyên tắc và dựa trên các giả định đơn giản về vùng in; thực tế mỗi xưởng có nhiều khổ tờ in và máy in khác nhau, nên có thể chọn khổ tờ khác để bù lại. Tuy nhiên phần bù đó vẫn phát sinh thành chi phí giấy hoặc hao hụt, và đây là lý do các khổ sách chuẩn thường mang lại báo giá ổn định hơn so với khổ riêng. Các khổ khác như A5, 16x24 hay 19x27 được tính tương tự trên khổ tờ in phù hợp với chúng.
Chọn khổ chia vừa khổ tờ in
Cách thực hành đơn giản nhất là chọn khổ trong nhóm khổ sách chuẩn, hoặc khi cần khổ riêng thì hỏi xưởng khổ gần nhất chia vừa tờ in trước khi thiết kế. Nhiều trường hợp chỉ cần giảm vài milimet ở một chiều là đưa được khổ riêng về cách bình trang hiệu quả, mà người đọc gần như không nhận ra khác biệt. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với đơn hàng số lượng lớn, vì mức chênh lệch lượng giấy được nhân lên theo số cuốn.
Khi nào nên chấp nhận khổ riêng
Khổ riêng vẫn hợp lý khi nó gắn với nhận diện thương hiệu, với kích thước hộp đựng hoặc với bộ ấn phẩm đã có sẵn, hoặc khi nội dung cần một tỷ lệ trang đặc biệt, chẳng hạn sách ảnh có ảnh tỷ lệ cố định. Trong các trường hợp này, đơn vị đặt in nên yêu cầu xưởng báo giá hai phương án, khổ riêng và khổ sách chuẩn gần nhất, để thấy mức chênh lệch chi phí và tự quyết định có đáng đánh đổi hay không. Với số lượng ít, chênh lệch về tổng chi phí thường nhỏ nên khổ riêng dễ chấp nhận hơn so với đơn hàng số lượng lớn.
Số trang, bội số của 4 và tay sách: liên hệ với khổ sách chuẩn
Khổ sách chỉ là một trong hai thông số cơ bản của cuốn sách, thông số còn lại là số trang. Mỗi tờ giấy in hai mặt gấp đôi tạo thành 4 trang, vì vậy ruột sách đóng keo hoặc khâu chỉ thường có tổng số trang là bội số của 4; để tận dụng tờ in, số trang tốt nhất nên là bội số của 8 hoặc 16. Khi số trang không chia đều theo các tay sách, xưởng phải thêm trang trắng hoặc tạo một tay sách lẻ có ít trang hơn, khiến công đoạn gấp và đóng phức tạp hơn một chút.
| Số trang ruột | Cách chia tay sách (ví dụ) | Ghi chú |
|---|---|---|
| 64 trang | 2 tay 32 trang hoặc 4 tay 16 trang | Chia đều, thuận lợi cho cả ghim giữa và keo nhiệt |
| 128 trang | 4 tay 32 trang hoặc 8 tay 16 trang | Chia đều |
| 192 trang | 6 tay 32 trang hoặc 12 tay 16 trang | Chia đều |
| 200 trang | 12 tay 16 trang và 1 tay 8 trang | Có một tay lẻ, xưởng xác nhận cách gấp trước khi dàn trang |
| 240 trang | 15 tay 16 trang hoặc 7 tay 32 trang và 1 tay 16 trang | Chia được, tùy khổ tờ in của xưởng |
| 250 trang | Không chia được theo bội số của 4 | Cần thêm 2 trang (thành 252) hoặc điều chỉnh nội dung |
Cách chia tay sách phụ thuộc cả khổ tờ in lẫn khổ thành phẩm, nên bảng trên chỉ mang tính minh họa nguyên tắc. Khách hàng nên chốt số trang cuối cùng cùng với xưởng trước khi dàn trang, đặc biệt với kiểu ghim giữa có ràng buộc chặt về bội số của 4 và với kiểu khâu chỉ có ràng buộc theo số trang mỗi tay sách. Các ràng buộc này được phân tích chi tiết trong bài các loại đóng gáy sách.
Cách xử lý trang trắng cuối sách
Khi số trang nội dung lẻ so với bội số cần thiết, thay vì để nhiều trang trắng ở cuối, đơn vị đặt in có thể tận dụng chỗ trống đó cho trang ghi chú, trang giới thiệu các ấn phẩm khác của đơn vị, trang cảm ơn hoặc trang mục lục tóm tắt. Cách làm này vừa giải quyết bài toán số trang vừa tăng giá trị cho cuốn sách, thay vì cắt bớt nội dung đã hoàn chỉnh.
Khổ sách, số trang và độ dày gáy: ba thông số phải tính cùng lúc
Độ dày gáy ảnh hưởng đến việc thiết kế bìa, khả năng in chữ trên gáy và kiểu đóng gáy khả thi. Độ dày này phụ thuộc số trang, loại giấy và định lượng ruột; còn khổ sách quyết định cuốn sách trông dày hay mỏng trên kệ. Với cùng nội dung, khổ nhỏ cần nhiều trang hơn nên cuốn sách dày và nặng hơn, còn khổ lớn cần ít trang hơn nhưng mỗi trang dùng nhiều giấy hơn. Loại giấy cũng làm độ dày khác nhau: giấy xốp như giấy vàng hoặc giấy Phần Lan thường dày hơn giấy trơn cùng định lượng, nội dung này có ở bài giấy in sách.
| Số trang ruột | Số tờ giấy | Độ dày gáy ruột (giả định 0,1 mm mỗi tờ) |
|---|---|---|
| 100 trang | 50 tờ | Khoảng 5 mm |
| 160 trang | 80 tờ | Khoảng 8 mm |
| 200 trang | 100 tờ | Khoảng 10 mm |
| 240 trang | 120 tờ | Khoảng 12 mm |
| 320 trang | 160 tờ | Khoảng 16 mm |
| 400 trang | 200 tờ | Khoảng 20 mm |
Bảng cho thấy độ dày tăng tuyến tính theo số trang; vì vậy nếu sách ít trang thì gáy mỏng và khó in chữ trên gáy, còn nếu quá dày thì cần cân nhắc kiểu đóng và loại bìa chịu được trọng lượng. Một cách để kiểm tra là làm cuốn trắng đúng khổ, loại giấy và số trang dự kiến, cầm thử và đo độ dày thực. Việc này đặc biệt cần thiết với giấy xốp hoặc giấy có độ nén thay đổi.
Lề sách, vùng an toàn và tràn lề (bleed) theo khổ sách chuẩn
Sau khi chốt khổ, phần dàn trang cần được thiết lập đúng các vùng kỹ thuật để file đưa vào in không bị lỗi xén hoặc che mất nội dung. Ba vùng cần phân biệt gồm vùng tràn lề (phần hình kéo dài ra ngoài khổ), vùng an toàn (nơi chữ và chi tiết quan trọng nằm) và lề gáy (phần chừa cho việc đóng). Hướng dẫn chung về chuẩn bị file được trình bày tại bài cách chuẩn bị file in; phần dưới tập trung vào điểm gắn với khổ sách.
Tràn lề (bleed)
Tràn lề là phần nền, hình hoặc màu được kéo dài ra ngoài mép thành phẩm, thường khoảng 3 mm mỗi cạnh (mức phổ biến, xưởng xác nhận khi nhận file). Khi sách được xén, đường xén có thể lệch nhẹ do sai số máy và sự dịch chuyển của giấy, và phần tràn lề đảm bảo không để lộ viền trắng ở mép trang. Với trang chỉ có chữ trên nền trắng thì không cần tràn lề, nhưng với trang có ảnh hoặc màu nền sát mép thì đây là yêu cầu bắt buộc của file in.
Vùng an toàn cho chữ và chi tiết quan trọng
Vùng an toàn là khoảng cách từ mép thành phẩm vào trong, thường khoảng 5 đến 10 mm tùy khổ (mức tham khảo). Chữ, số trang, logo và các chi tiết quan trọng cần nằm trong vùng này để không bị cắt khi xén. Với khổ nhỏ như 13x19, lề không nên quá hẹp vì cuốn sách vốn đã ít không gian; ngược lại với khổ lớn như A4 hay 19x27, lề rộng hơn giúp trang thoáng và tạo chỗ cho người đọc cầm mà không che chữ.
Lề trong và lề ngoài theo kiểu đóng gáy
Phần giấy sát gáy bị cuốn vào trong khi sách đóng, nên lề trong thường rộng hơn lề ngoài. Mức chênh phụ thuộc kiểu gáy, độ dày cuốn sách và độ mở mong muốn. Bảng dưới đây nêu nguyên tắc chung theo từng kiểu gáy, các mức cụ thể do xưởng tư vấn dựa trên file và loại giấy.
| Kiểu gáy | Lề trong so với lề ngoài | Lưu ý |
|---|---|---|
| Ghim giữa | Có thể gần bằng lề ngoài, chỉ cần chừa thêm một chút vì sách mở khá phẳng | Cần xử lý hiện tượng xô trang với cuốn nhiều trang |
| Keo nhiệt gáy vuông | Rộng hơn lề ngoài; mức tham khảo thường từ khoảng 5 mm trở lên tùy độ dày | Mép gáy được xử lý để keo bám nên mất một phần lề trong |
| Khâu chỉ kết hợp keo | Rộng hơn lề ngoài ở mức vừa phải vì sách mở phẳng tốt hơn keo nhiệt | Ảnh trải đôi vẫn nên tránh đặt chi tiết quan trọng đúng đường giữa |
| Lò xo, còng | Phải chừa thêm vùng đục lỗ ở mép gáy | Cỡ lò xo hoặc bước lỗ ảnh hưởng độ rộng vùng này |
| Bìa cứng gáy tròn | Rộng hơn lề ngoài, phụ thuộc độ cong của gáy | Bìa cần chừa phần xén bù lớn hơn bình thường |
Ảnh trải đôi và đường giữa hai trang
Với sách ảnh và kỷ yếu, ảnh trải đôi chạy qua hai trang liền kề, nên một phần ảnh tại đường giữa sẽ bị cuốn vào gáy, đặc biệt ở kiểu gáy keo nhiệt. Khuôn mặt, chữ và logo không nên đặt đúng đường giữa; nếu bắt buộc, cần chọn kiểu gáy mở phẳng tốt như khâu chỉ kết hợp keo hoặc lò xo. Việc lựa chọn kiểu gáy phù hợp với khổ và loại ảnh được phân tích tại bài các kiểu đóng gáy sách.
Mẹo từ chuyên gia in ấn:
Theo kinh nghiệm 13 năm của CEO Ngô Tâm, trước khi in số lượng lớn, đơn vị đặt in nên làm một cuốn trắng (dummy) đúng khổ, loại giấy và kiểu gáy dự kiến để cầm thử. Cuốn trắng cho thấy độ dày thực, cảm giác cầm và độ mở của sách, đồng thời giúp phát hiện sớm việc khổ quá nhỏ hoặc lề quá hẹp; In An Anh nhận làm cuốn trắng theo yêu cầu.
Khổ sách chuẩn và kiểu đóng gáy: mối liên hệ cần tính từ đầu
Khổ sách và kiểu đóng gáy ràng buộc lẫn nhau: một khổ lớn kết hợp nhiều trang tạo ra cuốn sách nặng, đòi hỏi kiểu gáy chắc; ngược lại một kiểu gáy hạn chế về số trang sẽ giới hạn cả khổ lẫn lượng nội dung. Vì vậy khổ nên được cân nhắc cùng lúc với kiểu gáy chứ không chọn lần lượt.
| Kiểu gáy | Khổ và số trang thường phù hợp | Lưu ý về khổ |
|---|---|---|
| Ghim giữa | Khổ A5, A4 hoặc khổ nhỏ; ấn phẩm mỏng, từ 8 đến khoảng 64 trang | Khổ lớn kết hợp giấy dày dễ làm sách phồng ở gáy |
| Keo nhiệt gáy vuông | Hầu hết các khổ phổ biến; số trang từ khoảng 40 trở lên | Khổ lớn và nhiều trang cần keo và bìa chịu được trọng lượng |
| Khâu chỉ kết hợp keo | Sách dày, khổ vừa đến lớn, ấn phẩm lưu trữ | Số trang phụ thuộc cách gấp tay sách |
| Lò xo, còng | A5, A4; sổ, tài liệu đào tạo, menu | Cỡ lò xo theo độ dày; cần vùng đục lỗ ở gáy |
| Bìa cứng | Mọi độ dày; thường dùng cho kỷ yếu, sách ảnh khổ lớn | Cần tính phần bìa thò ra ngoài ruột và chiều cao bìa |
Khách hàng có thể xem chi tiết từng kiểu tại dịch vụ đóng gáy keo nhiệt, dịch vụ đóng gáy lò xo và dịch vụ in sách bìa cứng. Nếu đã in ruột ở nơi khác, In An Anh nhận đóng cuốn cho tài liệu khách hàng đã in sẵn, tuy nhiên khổ và lề đã cố định nên cần kiểm tra trước khi nhận.
Kiểu gáy ảnh hưởng đến cách cầm và đọc sách
Khổ lớn kết hợp gáy keo cứng sẽ khó mở phẳng, người đọc phải dùng lực để giữ trang, trong khi khổ nhỏ gọn tay thì ít gặp vấn đề này. Với sách tra cứu, sách thực hành hoặc tài liệu đào tạo, khả năng mở phẳng quan trọng không kém khổ; vì vậy khổ lớn thường đi cùng lò xo, khâu chỉ hoặc gáy mềm. Cách ghép đúng giữa khổ, số trang và kiểu gáy giúp cuốn sách vừa bền vừa dễ dùng.
Khổ ngang, khổ vuông và khổ đặc biệt: khi nào nên chọn
Bên cạnh các khổ đứng quen thuộc, một số ấn phẩm được chọn khổ ngang, khổ vuông hoặc khổ có kích thước riêng. Những lựa chọn này làm cuốn sách nổi bật hơn nhưng đi kèm một số đánh đổi về chi phí giấy, kiểu gáy và cách trưng bày, nên cần cân nhắc trước khi quyết định.
Khổ ngang
Khổ ngang phù hợp với ảnh phong cảnh, bảng biểu rộng, lịch hoặc catalogue sản phẩm cần hiển thị theo chiều rộng. Hạn chế của khổ ngang là khi đóng gáy ở cạnh ngắn, cuốn sách khó lật và dễ xệ khi cầm; với sách dày, khổ ngang còn làm gáy chịu lực lớn. Vì vậy khổ ngang thường dành cho ấn phẩm ít trang như sách ảnh nhỏ, lookbook, album hoặc tài liệu trình bày, chứ ít khi dùng cho sách đọc dài.
Khổ vuông
Khổ vuông cân bằng giữa ảnh dọc và ảnh ngang nên được ưa chuộng ở sách ảnh, kỷ yếu, sách thiếu nhi và sách nghệ thuật. Vì hai chiều bằng nhau, khổ vuông thường không trùng với khổ giấy hệ A hoặc hệ B nên cần xác nhận cách bình trang với xưởng; các khổ vuông phổ biến như 20x20, 21x21 hoặc 25x25 thường được cân nhắc để vừa tối ưu giấy vừa giữ tính thẩm mỹ. Với khổ vuông lớn như 25x25, diện tích mỗi trang gấp khoảng hai lần khổ A5 nên chi phí giấy và đóng gáy đáng kể.
Khổ nhỏ, khổ bỏ túi
Khổ A6, 10x15 hoặc nhỏ hơn thích hợp với sách bỏ túi, sổ nhỏ, bookmark dạng gập và tài liệu kèm sản phẩm. Khổ nhỏ tiết kiệm giấy cho mỗi cuốn nhưng cần cỡ chữ đủ lớn để dễ đọc, nên số trang có thể tăng lên khi chuyển nội dung từ khổ lớn sang khổ nhỏ. Khách hàng có thể tham khảo thêm khổ sổ tay tại bài kích thước sổ tay để chọn khổ nhỏ phù hợp mục đích sử dụng.
Khổ tùy chỉnh và hình dạng đặc biệt
Khổ riêng hoặc hình dạng đặc biệt, chẳng hạn sách bế theo hình dạng riêng, tạo điểm nhấn cho ấn phẩm thiếu nhi, quà tặng và sản phẩm thương hiệu. Khi chọn khổ riêng, khách hàng nên cung cấp kích thước chính xác, số trang và mục đích sử dụng để xưởng đề xuất cách bình trang và báo giá; nếu cần, xưởng tư vấn phương án gần với khổ phổ biến để cân đối chi phí. Các khổ này cần kiểm tra thêm về gia công, vì gia công bế tại xưởng có thể ảnh hưởng đến độ dày và độ chính xác của đường cắt.
Ví dụ tính lượng giấy ruột khi đổi khổ sách chuẩn
Để thấy khổ ảnh hưởng thế nào đến lượng giấy, ví dụ dưới đây tính lượng giấy ruột cho 1.000 cuốn sách 200 trang (100 tờ) ở bốn khổ, giả định giấy định lượng 70 g/m². Đây là lượng giấy thành phẩm theo diện tích, chưa tính hao hụt khi in và gia công, cũng chưa phải đơn giá; báo giá thực tế còn phụ thuộc loại giấy, màu in, bìa và kiểu gáy. Khái niệm định lượng được giải thích ở bài định lượng giấy gsm.
| Khổ | Giấy ruột mỗi cuốn (200 trang) | Giấy ruột 1.000 cuốn | Khối lượng ở 70 g/m² (chưa tính hao hụt) |
|---|---|---|---|
| 14.5x20.5 | Khoảng 2,97 m² | Khoảng 2.972 m² | Khoảng 208 kg |
| A5 (14,8 x 21) | Khoảng 3,11 m² | Khoảng 3.108 m² | Khoảng 218 kg |
| 16x24 | Khoảng 3,84 m² | Khoảng 3.840 m² | Khoảng 269 kg |
| A4 (21 x 29,7) | Khoảng 6,24 m² | Khoảng 6.237 m² | Khoảng 437 kg |
Từ 14.5x20.5 lên 16x24, lượng giấy ruột tăng khoảng 29%, còn từ 14.5x20.5 lên A4 thì tăng hơn gấp đôi. Mức chênh lệch này chưa tính bìa, còn phần hao hụt cũng thay đổi theo cách bình trang, nên với những cuốn sách số lượng lớn, việc chọn khổ có thể tạo ra khác biệt đáng kể về chi phí giấy. Vì vậy khi cân nhắc giữa các khổ gần nhau, đơn vị đặt in nên so sánh theo lượng giấy chứ không chỉ theo cảm nhận về độ lớn của cuốn sách.
Những yếu tố khác cùng quyết định chi phí in sách
Khổ chỉ là một phần của chi phí. Bảng dưới liệt kê các yếu tố cùng tác động đến báo giá để khách hàng cân đối tổng thể; cấu trúc chi phí chi tiết hơn có tại trang báo giá in sách.
| Yếu tố | Tác động đến chi phí |
|---|---|
| Khổ thành phẩm | Quyết định diện tích giấy mỗi trang và cách bình trang trên tờ in. |
| Số trang | Nhiều trang hơn thì tăng lượng giấy, công in và độ dày gáy. |
| Loại giấy và định lượng | Giấy mỹ thuật, giấy xốp hoặc giấy định lượng cao có giá và độ dày khác giấy thông thường. |
| Màu in | In đen trắng, in một màu hoặc in bốn màu có chi phí khác nhau. |
| Phương pháp in | In offset hoặc in kỹ thuật số phù hợp với số lượng khác nhau; xem thêm bài so sánh in offset và in kỹ thuật số. |
| Bìa và gia công bìa | Bìa mềm, bìa cứng, cán màng, UV hoặc ép kim có công đoạn và vật liệu riêng. |
| Kiểu đóng gáy | Ghim, keo nhiệt, khâu chỉ, lò xo hoặc bìa cứng có chi phí khác nhau. |
| Số lượng | Số lượng lớn phân bổ chi phí cài đặt; số lượng ít vẫn thực hiện được, kể cả từ 1 cuốn. |
Với đơn hàng cần cân nhắc phương pháp in, khách hàng có thể xem bài in offset và in kỹ thuật số khác nhau thế nào. Nếu chỉ cần vài cuốn để kiểm tra hoặc làm quà tặng, thông tin về in sách số lượng ít giúp xác định phương án phù hợp.
5 sai lầm thường gặp khi chọn khổ sách chuẩn
Cảnh báo: sai sót về khổ thường xuất phát từ việc dàn trang hoặc thiết kế bìa trước khi xác nhận khổ với xưởng, nên chỉ phát hiện khi file đã hoàn tất và việc sửa đòi hỏi dàn lại nhiều trang.
- Chọn khổ lẻ lệch khỏi khổ sách chuẩn: khổ chỉ lệch vài milimet so với khổ phổ biến có thể làm số trang bình trên tờ in giảm, tăng lượng giấy và chi phí mà người đọc khó nhận ra khác biệt.
- Chọn khổ quá nhỏ cho sách nhiều bảng biểu: bảng và hình buộc phải thu nhỏ, chữ trong bảng khó đọc, hoặc phải chia bảng ra nhiều trang làm tăng số trang.
- Chọn khổ ngang cho sách dày: cuốn sách dày ở khổ ngang nặng về một phía, gáy chịu lực lớn và khó lật, nên khổ ngang chỉ phù hợp ấn phẩm ít trang.
- Không tính độ dày gáy khi thiết kế bìa: bìa phải dàn lại hoặc chữ trên gáy bị lệch vì độ dày thực khác dự kiến, nhất là với giấy xốp.
- Dàn trang xong mới hỏi khổ in: khi file đã hoàn chỉnh, đổi khổ kéo theo việc dàn lại chữ, ảnh và số trang, tốn thời gian hơn nhiều so với chốt khổ từ đầu.
Cách xử lý khi file đã dàn trang theo khổ chưa phù hợp
Nếu file đã hoàn tất nhưng khổ chưa tối ưu, bước đầu tiên là gửi file cho xưởng kiểm tra và đề xuất khổ gần nhất chia vừa tờ in. Trong nhiều trường hợp chỉ cần điều chỉnh vài milimet ở lề hoặc kích thước khung ảnh là chuyển được sang khổ sách chuẩn mà không phải dàn lại nội dung. Nếu chênh lệch lớn, In An Anh có thể thiết kế và dàn trang lại từ nội dung khách hàng cung cấp theo khổ mới; chi tiết có tại trang thiết kế và dàn trang sách.
Đổi khổ sách khi tái bản hoặc chuyển từ tài liệu có sẵn
Việc đổi khổ thường phát sinh khi tái bản một cuốn sách đã in, hoặc khi chuyển một tài liệu Word, PDF có sẵn sang dạng sách. Mỗi lần đổi khổ, chiều rộng cột chữ thay đổi nên ngắt dòng, ngắt trang và vị trí hình đều xê dịch; số trang vì vậy có thể tăng hoặc giảm đáng kể. Khi chuyển từ A4 sang A5, mỗi trang chứa ít nội dung hơn nên cùng một tài liệu thường phải tăng số trang gần gấp đôi, ngược lại khi chuyển từ A5 lên A4 số trang giảm tương ứng.
Danh sách cần rà soát khi đổi khổ sách:
- Cỡ chữ và giãn dòng còn dễ đọc ở khổ mới
- Bảng và biểu đồ còn hiển thị đủ cột, chữ không quá nhỏ
- Ảnh có độ phân giải đủ cho khổ mới, đặc biệt khi phóng to lên khổ lớn hơn
- Số trang mới có chia đều theo bội số của 4, 8 hoặc 16
- Mục lục, số trang tham chiếu và chú thích đã cập nhật
- Bìa và gáy được tính lại theo số trang và độ dày mới
- Lề trong, vùng an toàn và tràn lề thiết lập lại cho khổ mới
Khi tái bản, nếu khổ cũ không còn phù hợp khổ giấy đang có, xưởng có thể đề xuất khổ gần nhất để giữ hình thức quen thuộc. Việc giữ khổ cũ là hợp lý nếu cuốn sách thuộc một bộ đã có nhiều tập; còn nếu là sách độc lập, đây là cơ hội điều chỉnh sang khổ sách chuẩn để tối ưu chi phí.
Tình huống thường gặp khi chọn khổ sách chuẩn
Các tình huống dưới đây mô tả cách cân nhắc khổ theo mục đích và quy mô. Đây là ví dụ minh họa mang tính chung, không phải số liệu thống kê; thông số thực tế được xưởng tư vấn dựa trên file và mẫu giấy cụ thể.
Tác giả tự xuất bản một tiểu thuyết
Tác giả có bản thảo vài trăm trang và muốn cuốn sách có hình thức giống sách bày bán trên kệ. Khổ 13x19 hoặc 14.5x20.5 là lựa chọn thường gặp, kết hợp giấy ruột nhẹ để cuốn sách không quá dày và đóng keo nhiệt gáy vuông. Tác giả nên làm một cuốn trắng để cầm thử, vì độ dày thực của giấy xốp thường khác dự tính, và chỉ chốt file bìa sau khi biết độ dày gáy. Số lượng ít vẫn thực hiện được, kể cả từ 1 cuốn để kiểm tra.
Doanh nghiệp in sách kỷ niệm thành lập
Doanh nghiệp cần cuốn sách có nhiều ảnh hoạt động, dự án và thông điệp lãnh đạo để tặng đối tác. Khổ A4 hoặc vuông 21x21, 25x25 phù hợp cho ảnh lớn, còn khổ 16x24 là phương án cân bằng khi muốn cuốn sách gọn hơn. Vì ảnh trải đôi nhiều, kiểu khâu chỉ kết hợp keo hoặc bìa cứng thường được cân nhắc để ảnh ít bị khuất vào gáy. Đơn vị cần chốt khổ trước khi thiết kế để bố cục ảnh phù hợp ngay từ đầu.
Đơn vị đào tạo in giáo trình cho nhiều lớp
Đơn vị đào tạo cần giáo trình có nhiều bảng, bài tập và khoảng trống ghi chú, in số lượng theo từng khóa. Khổ 16x24, B5 hoặc A4 đáp ứng yêu cầu về không gian; kiểu gáy lò xo giúp học viên đặt phẳng trên bàn thực hành, còn keo nhiệt phù hợp khi giáo trình cần hình thức giống sách và lưu trữ lâu. Vì in nhiều đợt, đơn vị nên giữ cố định một khổ để các lần in sau dùng chung quy cách và dễ phối hợp với xưởng.
Thương hiệu in sách hướng dẫn kèm sản phẩm
Thương hiệu cần cuốn hướng dẫn đặt gọn trong hộp sản phẩm, số lượng lớn và cần giữ chi phí hợp lý. Khổ A5 hoặc A6 thường được chọn, kết hợp đóng ghim giữa với số trang bội số của 4. Khổ cần được chốt cùng kích thước hộp, vì chỉ cần sách rộng hơn lòng hộp vài milimet là phải đổi khổ hoặc thiết kế lại hộp. Nên làm mẫu thật và thử đặt vào hộp trước khi sản xuất số lượng lớn.
In sách đủ khổ tại In An Anh
Quy trình chốt khổ sách cùng xưởng và thông tin cần gửi để báo giá
Chốt khổ nên diễn ra sớm, trước khi dàn trang và thiết kế bìa. Quy trình dưới đây giúp rút ngắn các vòng chỉnh sửa. Với đơn hàng sách, khách hàng có thể tham khảo thêm tổng quan dịch vụ tại trang in sách.
- Gửi yêu cầu ban đầu: khách hàng cho biết loại sách, số trang dự kiến, số lượng và cách sử dụng.
- Xưởng đề xuất khổ: dựa trên nội dung và khổ giấy, xưởng đề xuất một hoặc hai khổ cùng kiểu gáy phù hợp và so sánh ngắn gọn.
- Chọn giấy và xem mẫu: khách hàng xem mẫu giấy thật tại xưởng để cảm nhận định lượng, độ dày và bề mặt.
- Làm cuốn trắng khi cần: với ấn phẩm yêu cầu cao, cuốn trắng giúp kiểm tra khổ, độ dày gáy và độ mở trước khi chốt.
- Dàn trang và kiểm tra file: xưởng thiết kế, dàn trang hoặc kiểm tra file khách hàng gửi theo khổ đã chốt.
- Duyệt bản in thử và sản xuất: khách hàng duyệt bản in thử để kiểm soát màu rồi xưởng mới in số lượng lớn.
Thông tin cần gửi để nhận tư vấn khổ và báo giá in sách:
- Loại sách (văn học, kỹ năng, giáo trình, sách ảnh, kỷ yếu…)
- Số trang ruột và số trang bìa dự kiến
- Khổ mong muốn hoặc khổ của cuốn sách tham khảo
- Loại giấy, định lượng ruột và bìa (nếu đã xác định)
- In đen trắng hay in màu, tỷ lệ trang có ảnh
- Kiểu đóng gáy mong muốn hoặc mục đích sử dụng
- Số lượng cuốn và thời điểm cần nhận hàng
Cần chốt khổ sách trước khi dàn trang?
Gửi loại sách, số trang và số lượng để In An Anh tư vấn khổ sách chuẩn phù hợp và báo giá miễn phí.
Câu hỏi thường gặp về khổ sách chuẩn
Khổ sách phổ biến nhất hiện nay là khổ nào?
Không có thống kê chính thức cho toàn thị trường, nhưng các khổ sách chuẩn thường gặp là 13x19 và 14.5x20.5 cho sách văn học, sách kỹ năng; 16x24 cho sách chuyên khảo và giáo trình; A5 cho tài liệu và sách hướng dẫn. Khổ phổ biến còn thay đổi theo thể loại và nhà xuất bản, nên khách hàng nên chọn theo nội dung và mục đích sử dụng thay vì dựa vào một con số duy nhất.
Sách 14.5x20.5 là khổ gì và dùng cho loại sách nào?
Đây là khổ rộng 14,5 cm, cao 20,5 cm, nằm giữa 13x19 và A5 về kích thước. Khổ này thường dùng cho sách văn học, sách dịch, sách kỹ năng và kinh doanh vì cân đối giữa độ gọn tay và không gian trình bày. Với tờ in phù hợp, khổ 14.5x20.5 cho phép bình trang hiệu quả, nên cũng được chọn khi cần hạn chế hao hụt giấy.
Sách giáo khoa có khổ bao nhiêu?
Khổ sách giáo khoa và giáo trình thay đổi theo bộ sách, cấp học và đơn vị biên soạn, nhưng phổ biến nằm trong khoảng từ 17x24 đến 19x27 cm; thông tin này chỉ để tham khảo. Khi in giáo trình cho cơ sở đào tạo, khách hàng nên đối chiếu quy định của đơn vị quản lý hoặc bộ giáo trình hiện hành trước khi gửi file cho xưởng.
In sách khổ A5 có rẻ không?
Khổ A5 nhỏ hơn A4 nên lượng giấy cho mỗi trang ít hơn, và khổ này thuộc hệ giấy A nên dễ tìm giấy phù hợp. Tuy nhiên chi phí cuối cùng còn phụ thuộc số trang, loại giấy, màu in, bìa và kiểu gáy. Khi chuyển nội dung từ A4 sang A5, số trang thường tăng, nên mức tiết kiệm không tỷ lệ thuận với diện tích trang; xưởng báo giá cụ thể theo từng đơn.
Khổ vuông có đắt hơn khổ đứng thông thường không?
Khổ vuông thường không trùng với khổ giấy hệ A, B nên cách bình trang có thể phát sinh phần thừa lớn hơn, đặc biệt ở khổ vuông lớn như 25x25. Vì vậy chi phí giấy thường cao hơn khổ chuẩn có diện tích tương đương. Đổi lại khổ vuông cho ảnh hiển thị cân đối; khách hàng nên yêu cầu báo giá cả khổ vuông và khổ đứng gần nhất để so sánh.
Có in khổ sách tùy chỉnh được không?
Có. In An Anh nhận in sách theo khổ riêng khi khách hàng cung cấp kích thước, số trang và mục đích sử dụng. Khổ riêng có thể làm lượng giấy hao hụt tăng hơn so với khổ chuẩn, nên xưởng thường đề xuất thêm phương án khổ sách chuẩn gần nhất để khách hàng so sánh chi phí. Nếu khổ gắn với nhận diện thương hiệu hoặc kích thước hộp, khổ riêng vẫn là lựa chọn hợp lý.
Chọn khổ sách thế nào để tiết kiệm giấy?
Cách thực tế là chọn khổ chia vừa khổ tờ in, thường là các khổ sách chuẩn như 14.5x20.5, A5 hoặc 16x24, đồng thời chọn số trang là bội số của 8 hoặc 16 để tận dụng tay sách. Ngoài ra cần cân đối định lượng giấy và phương pháp in theo số lượng. Gửi sớm yêu cầu cho xưởng giúp kiểm tra khổ trước khi dàn trang, tránh phải sửa file về sau.
Khổ 13x19 khác 13x20.5 như thế nào?
Hai khổ cùng rộng 13 cm, nhưng 13x20.5 cao hơn 1,5 cm nên thon hơn và chứa được nhiều dòng chữ hơn trên mỗi trang. Khổ 13x19 gọn hơn, hợp tiểu thuyết bỏ túi, còn 13x20.5 thường gặp ở sách văn học, sách dịch và tản văn. Với cùng nội dung, khổ cao hơn thường cho số trang ít hơn một chút; xưởng sẽ kiểm tra cách bình trang trên tờ in trước khi chốt.
Sách khổ A4 có đóng keo nhiệt được không?
Được, nhưng cần cân nhắc số trang và trọng lượng. Khổ A4 lớn nên cuốn sách dày sẽ nặng, gáy keo phải chịu lực lớn khi lật; với báo cáo hoặc hồ sơ nhiều trang, khâu chỉ kết hợp keo hoặc lò xo có thể bền và dễ mở hơn. Xưởng tư vấn kiểu gáy dựa trên số trang, loại giấy và mục đích sử dụng của từng cuốn.
Khổ nào phù hợp nhất cho sách ảnh?
Sách ảnh thường chọn khổ vuông 20x20, 21x21, 25x25 hoặc khổ A4, 19x27 tùy số lượng ảnh và nhu cầu hiển thị. Khổ vuông cân đối giữa ảnh dọc và ngang, khổ lớn cho ảnh trải đôi rõ chi tiết. Vì ảnh trải đôi bị khuất một phần ở đường gáy, nên nên chọn kiểu đóng mở phẳng tốt như khâu chỉ kết hợp keo hoặc lò xo.
Khổ B5 và khổ 16x24 khác nhau thế nào?
B5 theo chuẩn ISO là 17,6 x 25 cm, còn 16x24 hẹp hơn 1,6 cm và thấp hơn 1 cm. Hai khổ gần nhau và đều phổ biến cho giáo trình, nhưng không thể thay thế nhau khi bình trang, vì chênh lệch nhỏ cũng làm thay đổi số trang đặt được trên tờ in. Khách hàng cần ghi rõ chiều rộng và chiều cao thay vì chỉ ghi tên khổ.
Đã dàn trang khổ A4, có chuyển sang A5 được không?
Được, nhưng cần dàn lại vì chiều rộng cột chữ, cỡ chữ, bảng và vị trí ảnh đều thay đổi. Số trang cũng tăng lên đáng kể, nên độ dày gáy và kiểu đóng có thể phải điều chỉnh. In An Anh nhận thiết kế và dàn trang từ nội dung khách hàng cung cấp, nên khách hàng có thể gửi file hiện có để xưởng đánh giá mức độ chỉnh sửa.
Mọi khổ sách đều cần chừa tràn lề phải không?
Tràn lề chỉ cần khi trang có hình hoặc màu nền sát mép. Với trang chữ đen trên nền trắng thì không bắt buộc, nhưng các trang bìa, trang ảnh và trang có nền màu đều cần tràn lề, thường khoảng 3 mm mỗi cạnh theo mức phổ biến. Xưởng xác nhận thông số khi nhận file để tránh lệch khi xén thành phẩm.
Có thể làm cuốn trắng để kiểm tra khổ trước khi in không?
Có. In An Anh nhận làm cuốn trắng (dummy) theo đúng khổ, loại giấy và kiểu gáy dự kiến. Cuốn trắng giúp cầm thử cảm giác khổ, đo độ dày thực của gáy, kiểm tra độ mở và cách bìa ôm gáy trước khi chốt file bìa và sản xuất số lượng lớn. Cách làm này đặc biệt hữu ích với sách quà tặng, kỷ yếu và sách có yêu cầu cao về hình thức.
Xưởng in sách theo nhiều khổ tại Hà Nội
📍 Số Nhà 8, Lô D5-17 Cụm Sản Xuất Tân Triều Thanh Liệt, Phường Thanh Liệt, Hà Nội
📞 Hotline/Zalo: 0934 510 662